Chia se 2
Chia
sẻ 02
Cha nghĩ sao về quan điểm của Thuý Kiều, trong chuyện
Kiều của Nguyễn Du?
Thuý Kiều đã hy sinh cái quý nhất của người con gái
vì tình yêu thương của mình đối với người cha. Thuý Vân, em của Thuý Kiều,
không dám hy sinh cho cha mình như vậy.
Người đời đánh giá về đạo đức thì coi Thuý Vân cao
hơn Thuý Kiều rất nhiều.
Thuý Kiều đã coi tình yêu đối với cha mình hơn cả
nhân cách, hơn cả trinh tiết, hơn cả hạnh phúc của chính mình, và sẵn sàng ngụp
lặn trong đau khổ của cuộc đời một con đĩ.
Cha nghĩ sao?
Nếu Cha hỏi Chúa Giêsu về trường hợp ấy của Thuý
Kiều, Ngài sẽ trả lời thế nào? Ngai đánh giá ai đạo đức hơn ai?
Hiện nay, trong xã hội Việt
Những phụ nữ như vậy đều bị mọi người, kể cả các linh
mục, đánh giá rất thấp về đạo đức hay luân lý… Họ nhìn thấy tội lỗi về điều răn
thứ sáu quá lớn so với tình yêu mà những phụ nữ ấy dành cho những người thân
yêu nhất của họ.
Họ đâu hiểu được câu «Trước hết, anh em hãy hết tình
yêu thương nhau, vì lòng yêu thương che phủ muôn vàn tội lỗi» (1Pr 4:8).
Tại sao Đức Giêsu lại nói với các các thượng tế và kỳ
mục trong dân (x. Mt 21:23) câu này: “Tôi bảo thật các ông: những người thu
thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông” (Mt 21:31). Rõ
ràng Ngài đánh giá những cô gái điếm xứng đáng vào Nước Trời hơn những thượng
tế và kỳ mục kia phải không?
Các giám mục và linh mục thời nay có ai nghĩ được như
Chúa Giêsu thời xưa không?
Tôi thấy não trạng của các giáo sĩ thậm chí rất cao cấp
trong Giáo Hội, ít ai có được não trạng giống Chúa Giêsu. Tôi nghĩ khi đọc
Thánh Kinh, mình phải làm sao để có cách nhìn vấn đề, cách quan niệm mọi sự
giống như Chúa Giêsu… Mình nhìn vấn đề, quan niệm khác với Chúa Giêsu, làm sao
mình rao giảng và sống đúng với đường lối của Chúa được?
T: Quan
trọng ở cái Tâm. Có khi các cô gái điếm lại có cái Tâm hơn các Lm; vì các Lm
thủ đoạn chiêu trò thì không thiếu.
Đúng vậy. Cái TÂM là điều quan trọng nhất. Chính
Nguyễn Du cũng nói được câu «Chữ TÂM kia mới bằng ba chữ TÀI».
Liệu các giám mục và linh mục thời nay đã nghĩ được
như Nguyễn Du xưa không?
Phật giáo chủ trương tu TÂM cao hơn tu PHƯỚC. Tư
PHƯỚC là cố gắng làm điều tốt và tránh điều ác để tạo phúc đức hầu được Trời,
hay luật nhân quả bù đắp, trả công… Còn người tu TÂM thì chỉ nhắm làm sao để
cái TÂM của mình luôn luôn hướng thiện, luôn luôn có tình yêu, không cần luân
hồi, không cần thiên đàng, không sợ hoả ngục…. Họ mới là những người được Thiên
Chúa đánh giá cao hơn cả. Và họ là người giải thoát khỏi luân hồi nhân quả.
Tu giái thoát là tu TÂM. Cái TÂM của mình không nhắm
mục đích nào ngoài sự THIỆN, ngoài TÌNH THƯƠNG. Ngay cả không nhắm thành Phật
hay thành thánh, không cầu giải thoát… Người cầu thành Phật, thành Thánh, theo
tinh thần Phật giáo, thì không thể thành Phật, thành Thánh đâu. Người cầu giải
thoát cũng chẳng được giải thoát đâu.
Tôi nghe nói hay đọc ở đâu đó cho rằng thánh Têrêxa
Hài Đồng đã thương những người tội lỗi đến nỗi xin Thiên Chúa để mình xuống hoả
ngục thay cho tất cả những người tội lỗi kia. Không biết điều ấy có thựa không.
Cái TÂM như vậy chính là cái đích mà những ai trong Phật giáo muốn tu giải
thoát phải đạt tới.
Nếu Thánh Nữ có được cái TÂM như vậy thì Giáo Hội tôn
là THÁNH CẢ là hoàn toàn đúng và xứng đáng.
Một cái TÂM như vậy là đã từ bỏ được “cái tôi” hoàn
toàn để nên MỘT với cái TÂM của toàn thể vũ trụ, tức Thiên Chúa.
Những người như cô Phạm Đoan Trang, “xin đừng cứu
tôi, hãy cứu dân tộc tôi”, thật cao thượng. Cái TÂM ấy, có mấy giám mục hay
linh mục có được!
T: Các
Giám mục họ cũng nghĩ là VÌ GIÁO HỘI. Nhưng được những mới lợi: được xây dựng
nhà thờ và tổ chức lễ hoành tráng
● Cái TÂM của mình (tức Âtman) tựa như một lượn sóng,
cái TÂM của vũ trụ (tức Brahman) tựa như cả Đại Dương. Sóng (rất nhỏ bé) và Đại
Dương (vô cùng lớn) nhưng đều là NƯỚC, cùng có một bản chất là NƯỚC. Người giác
ngộ là người thấy được sóng với đại dương là một, mình hay Âtman và Thiên Chúa
hay Brahman là một, cùng một bản chất là Thượng Đế tính, hay Phật tính, hay Đạo
Đức (tính chất của ĐẠO)...
Người Công giáo thấy mình là một chi thể của một thân
thể là Chúa Kitô. Chi thể và cả thân thể cùng chung một sự sống.
● Tất cả mọi đau khổ đến với ta, không có đau khổ nào
đến từ Thiên Chúa cả, mà đến từ những đau khổ ta gây ra cho người khác do luật
nhân quả của vũ trụ. Luật đó tác động một cách máy móc không phân biệt một ai.
Là con người, chúng ta không có khả năng làm thiệt
hại Thiên Chúa cách nào cả, tương tự như chúng ta không thể làm gì có hại cho
mặt trời hay mặt trăng cả. Chúng ta chỉ có thể làm hại những người chúng ta
gặp. Và cái hại ta làm cho tha nhân cuối cùng cũng sẽ trở lại hại chính ta.
Chúng ta yêu mến Thiên Chúa cũng chẳng có lợi gì cho
Thiên Chúa cả, nhưng chúng ta yêu mến tha nhân thì sự yêu mến ấy sẽ quay trở
lại với chính chúng ta, khiến chúng ta được nhiều người yêu mến. Chúng ta làm
lợi gì cho tha nhân thì cũng chính là làm lợi cho chính chúng ta.
● Người Đông Phương không quan niệm về Trời hay
Thượng Đế giống như người Tây Phương. Người Tây Phương, cụ thể như các Kitô
hữu, quan niệm Thiên Chúa giống như một ông vua ở trần gian (nghĩa là đã được
nhân hình hóa), nên phải thờ phượng, ca tụng, ngợi khen, cảm tạ... Người Đông
Phương quan niệm Trời là Trí Tuệ Siêu Việt, nguồn gốc sinh ra và chi phối muôn
vật qua những quy luật của vũ trụ. Trời hay Thượng Đế tương tự như cha mẹ của
vũ trụ vạn vật. Việc thờ Trời ở một số quốc gia Đông Phương như Việt
Các tôn giáo hầu như do con người lập ra khi họ thần
thánh hóa một nhân vật trong truyền thuyết và coi những nhân vật ấy như thần
linh có quyền ban phát hay trừng phạt con người một cách rất “con người”, nghĩa
là cũng theo cảm tình yêu ghét, thù hận... Vì thế, con người phải thờ cúng,
dâng hy lễ... Những nghi thức hay hy lễ ấy cũng do con người lập ra theo quan
niệm và sự tưởng tượng của họ về vị thần trong truyền thuyết.
● Khi mặc khải mình cho Môsê, Yavê không cho tên,
cũng không muốn con người tạc tượng. Tôi thì hiểu theo quan điểm của Lão Tử,
Yavê không muốn con người cụ thể hóa hay hình tượng hóa Ngài bằng một tên gọi,
qua một hình tượng, vì như thế là hạ Ngài xuống một đẳng cấp có thể diễn tả
được bằng ngôn ngữ của con người. Mà theo Lão Tử thì tên mà gọi được thì chỉ là
tên tầm thường mà thôi. Đạo mà có thể diễn tả được thì không phải là Đạo siêu
việt. Kitô giáo không tạc tượng Ngài bằng vật chất, nhưng tạc tượng Ngài bằng
những ý niệm thần học.
Nếu Kitô giáo mà được khai triển bằng triết Đông thì
chắc chắn thần học của Kitô giáo sẽ rất khác với hiện nay.
Đương nhiên mọi chuyện xảy ra không bao giờ lại ngoài
ý của Thiên Chúa cả.
● Đối với những người tội lỗi đang gây đau khổ cho
mình, những người tin vào luân hồi tiến hoá rất thông cảm cũng rất dễ tha thứ
cho những người gây tội ác ấy, vì họ tin rằng trong một kiếp trước đây, với
trình độ tâm linh còn thấp kém, họ cũng đã gây những tội ác tương tự như vậy.
Và khi nhìn vào Đức Phật, hay bất kỳ một vị thánh nào, họ cũng tin rằng trong
một kiếp tương lai nào đó, họ cũng sẽ thành tựu như vậy, kể cả những người đảng
gây tội ác cho họ kia, trong một tương lai nào đó cũng sẽ thành Phật.
Một thuyết như thế có hợp lý và khôn ngoan hơn thuyết
thiên đảng và hoả ngục đời đời không?
Người Kitô hữu sẵn sang tha thứ cho người khác vì
Chúa Giêsu, gương mẫu của họ, đã làm gương như thế để họ bắt chước. Còn người
tin thuyết luân hồi tiến hoá cũng sẽ dễ dàng tha thứ vì những lý do trên.
● Thiên Chúa không có tên, đúng như Lão Tử viết “Danh
khả danh, phi thường danh”. Khi được Môsê hỏi tên, Ngài nói: “Ta là Ta” (I am
Who I Am”. Ngài không muốn con người gọi Ngài bằng một tên nào, huống chi là mô
tả Ngài bằng ngôn từ quá giới hạn của con người. Nhưng con người có nhu cầu gọi
tên để xác định Ngài khác với các thần mà dân ngoại tưởng tượng ra để thờ, hoặc
do một nhân vật vô hình nào đó vốn là tạo vật của Ngài, nên mới tạm gọi Ngài là
YHWH theo âm của người Do Thái khi Ngài tự xưng “Ta là Ta”, mà người Việt mình
phiên âm YHWH là Yavê. Ta gọi Ngài là Thiên Chúa theo quan niệm của mình về
Ngài là “Chủ / Chúa của Trời”.
Giáo Hội đã rửa tội cho danh từ THEOS (Hy lạp) hay
DEUS (Latin) là từ mà dân ngoại dùng để gọi các thần của họ, nhưng để chỉ Thiên
Chúa thì phải viết hoa.
Giáo Hội tự dễ dãi cho mình về việc gọi Ngài như vậy,
nhưng rất khó khăn cho những dân tộc khác. Người Tàu muốn gọi Ngài bằng THIÊN
như Khổng Tử thường gọi, nhưng khởi đầu Giáo Hội không chấp nhận, mà buộc phải
gọi Ngài bằng phiên âm của chữ DEUS. Đã có thời người Việt mình phải gọi Thiên
Chúa là “Chúa Dêu”. Thời ấy, người Kitô hữu Tàu, Nhật, v.v... đều phải gọi Ngài
bằng phiên âm của từ DEUS. Nhưng gọi bằng phiên âm như vậy có điều bất tiện là
nhiều khi có nghĩa không đẹp theo tiếng của họ.
Mãi tới thế kỷ 18, linh mục Mateo Ricci, dòng Tên ở
Tàu, xin Rôma cho người Tàu gọi Thiên Chúa bằng THIÊN, nhưng Rôma sợ người Tàu
hiểu lầm THIÊN là trời theo nghĩa vật chất, nên buộc phải thêm chữ CHỦ thành ra
THIÊN CHỦ (nghĩa là Chủ của Trời). Người Việt đổi chữ CHỦ thành chữ CHÚA, thành
THIÊN CHÚA.
Thật ra chữ THIÊN trong các tác phẩm của Khổng Tử thì
đã có nghĩa tương tự như chữ THIÊN CHÚA của chúng ta bây giờ.
Như vậy, ta thấy khi Giáo Hội gọi Thiên Chúa là THEOS
hay DEUS bằng từ mà dân ngoại gọi các thần của họ, thì Giáo Hội đã quá dễ dãi
cho mình. Nhưng lại vô cùng khắt khe cho những dân tộc khác gọi Thiên Chúa theo
cung cách và cách hiểu của họ. Bắt họ gọi Thiên Chúa bằng phiên âm của chữ DEUS
quả thiệt không khôn ngoan và thông minh chút nào, đồng thời không hiểu được triết
lý tại sao Thiên Chúa không tự đặt tên để con người gọi mình. Tất cả những tên
mà con người gọi Ngài như Yavê, Theos, Deus, Thiên hay Thiên Chúa… đều là những
tên con người tự đặt cho Ngài.
Thiên Chúa muốn con người hiểu rằng Ngài là đấng siêu
việt và siêu nghiệm, không một TÊN hay cách DIỄN TẢ nào của con người có thể
phù hợp với Ngài. Nhưng Giáo Hội thì hiểu rằng có thể gọi Ngài bằng một tên xác
định, và thậm chí xác định được cả cách diễn tả về Ngài như thể diễn tả như vậy
là chính xác… Đúng là “bó tay”!
Nhận xét
Đăng nhận xét