Chia se 1
Chia sẻ 1
Mời
Cha đọc trang này: Đồng Sự: http://trisieu.free.fr/PhatPhap/05-TruyenNgan/DongSu.htm
●
Truyền thuyết trong đạo Công giáo nói rằng:
Khi
Thiên Chúa tỏ lộ cho các thiên thần biết sẽ cho Ngôi Hai xuống thế làm người,
mặc dù mang thân phận một tạo vật hèn kém, nhưng vẫn là Thiên Chúa, các thiên
thần cũng phải tùng phục người này.
Khi
ấy, Lucifer, vị thiên thần sáng láng và cao cả nhất không chấp nhận điều ấy:
Một thiên thần mà phải tùng phục một người hèn kém như một người trên mình thì
không thể chấp nhận được.
Rồi
tới thời Đức Giêsu xuống thế, Ngài ăn uống với bọn thu thuế, gái điếm, nói
chung là những hạng người tội lỗi, thì những người được mang danh là đạo đức
thời ấy không thể chấp nhận được (chẳng hạn việc Ngài để cho một gái điếm lấy
nước mắt và tóc lau chân mình)...
Trong
đạo Phật (do Phật dạy) có hai pháp môn trong 4 pháp gọi là Tứ Nhiếp Pháp nhằm
cứu độ chúng sinh; hai pháp ấy là lợi hành và đồng sự). 2 pháp này xem ra rất
giống với cách cứu độ người tội lỗi của Đức Giêsu mà nhiều người đạo đức không
hiểu và chấp nhận được.
●
Thiền có câu: "Ðại nghi, đại ngộ; Tiểu nghi, tiểu ngộ; Bất nghi, bất
ngộ." (Nghi lớn, ngộ lớn; Nghi nhỏ, ngộ nhỏ; Không nghi, không ngộ.)
Nghĩa
là để giác ngộ được chân lý, phải biết nghi ngờ tất cả mọi điều mình đang biết,
đang tin tưởng, để xét lại xem nó có thật sự đúng không, có thật sự đáng tin
không, có hợp lý không.
Phật
từng dạy các đệ tử:
“Đừng
tin tưởng vào một điều gì vì phong văn. Đừng tin tưởng điều gì vì vin vào một
tập quán lưu truyền.
Đừng
tin tưởng điều gì vì cớ được nhiều người nói đi nhắc lại. Đừng tin tưởng điều
gì dù là bút tích của thánh nhân.
Đừng
tin tưởng điều gì dù thói quen từ lâu khiến ta nhận là điều ấy đúng.
Đừng
tin tưởng điều gì do ta tưởng tượng ra lại nghĩ rằng một vị tối linh đã khai
thị cho ta.
Đừng
tin tưởng bất cứ một điều gì chỉ vin vào uy tín của các thầy dạy các người, kể
cả lời dạy của ta.
Nhưng
chỉ tin tưởng cái gì mà chính các người đã từng trải, kinh nghiệm và nhận là
đúng, có lợi cho mình và người khác. Chỉ có cái đó mới là đích tối hậu thăng
hoa cho con người và cuộc đời. Các người hãy lấy đó làm chỉ chuẩn”.
Khi
còn học ở Đại chủng viện, tôi được học về Descartes, ông chủ trương: chỉ tin
sau khi đã chứng minh. Vì thế ông ta đã cào bằng hết tất cả mọi điều ông biết
để mghi ngờ tất cả, và xét lại tất cả.
Năm
1978, sau khi đọc Lão Tử và Trang Tử, tôi bắt đầu tự do tư tưởng, và xét lại
tất cả những điều mình tin, những điều mình được dạy... Chỉ khi tự do tư tưởng,
tôi mới khám phá ra những bất hợp lý trong những điều mình tin.
Tự
do tư tưởng là để cho trí tuệ mình được tự do suy nghĩ theo bản tính tự nhiên
của nó, không bị ảnh hưởng bởi nỗi sợ bị một thế lực nào ép buộc phải chấp nhận
một điều gì.
Lúc
đó tôi mới khám phá ra có một nỗi sợ khiến mình không dám tự do tư tưởng, đó là
nỗi sợ hỏa ngục. Tôi bèn xét xem niềm tin về hỏa ngục có đáng tin không.
Tôi
bèn hỏi cha linh hướng:
1)
Hỏa ngục là một hình phạt hay sự trả thù của Thiên Chúa?
2)
Nếu là một hình phạt, thì nó phải có tính giáo dục. Hỏa ngục có tính giáo dục
không, khi người vào đó không thể hối cải để trở nên tốt hơn?
3)
Hỏa ngục có tính công bằng không, khi con người hữu hạn, chỉ có thể phạm những
tội hữu hạn, thì tại sao lại phạt những tội hữu hạn bằng một hình phạt vô hạn?
Như vậy có công bằng và hợp lý không?
Cha
linh hướng không trả lời được một cách thuyết phục. Thế là tôi giải thoát được
nỗi sợ ấy.
●
Người tư duy theo triết học Tây Phương thường hiểu theo nghĩa tuyệt đối những
từ mà các nhà tư tưởng về tâm linh phát biểu. Chẳng hạn Phật nói: Tham dục là
nguồn gốc của đau khổ, vì thế muốn thoát khổ cần phải DIỆT DỤC.
Thế
là bị các triết gia Tây Phương phê bình cho rằng diệt dục thì con người không
thể tiến bộ được. Nền văn minh nhân loại hiện nay có được là do lòng ham muốn
tiến bộ của con người.
Đức
Giêsu nói «lửa không hề tắt» lập tức được hiểu cách tuyệt đối theo nghĩa triết
học của hai chữ «đời đời» (=eternity).
Thực
ra, tất cả những lời dạy về chân lý của những bậc siêu nhân về tâm linh đều
mang tính văn chương chứ không phải mang tính triết học, hay luật học. Nó là
triết lý chứ không phải triết học.
Chính
vì thế, Trang Tử mới chủ trương «được thỏ quên dò, được cá quên nơm, được ý
quên lời», vì «ý tại ngôn ngoại» = ý nằm ngoài ngôn từ, không lệ thuộc hoàn
toàn vào ngôn từ… Người ta dùng ngôn từ để diễn tả cái ý, nhưng nhiều khi ngôn
từ không diễn tả hết được cái ý mình muốn nói. Cho nên chấp vào ngôn từ không
phải là trí tuệ.
Xem:
https://www.rongmotamhon.net/tu-dien_thuat-ngu_kmtmmpgp_rong-mo-tam-hon.html
=>
Được cá quên nơm. Ví dụ khi đạt được mục đích rồi thì không cần đến phương tiện
nữa, do đó không nên chấp trước. Thiên Ngoại vật trong sách Trang tử nói: Cái
nơm dùng để bắt cá, được cá rồi nên quên nơm; cái bẫy dùng để bắt thỏ, được thỏ
rồi nên quên bẫy; lời nói là để diễn ý, được ý rồi nên quên lời. Trong đó, câu
Được ý quên lời (Đắc ý vong ngôn) nghĩa là ngôn ngữ chỉ là phương tiện dùng để
biểu đạt đạo lí, khi tâm đã thấu suốt đạo lí rồi thì nên quên hẳn danh ngôn.
Nói cách khác, không nên chấp nê câu văn, mà cần thấu hiểu ý nghĩa chân thực
trong đó. Đạo giáo và Thiền tông đều cho rằng đạo lí cao sâu nhất không thể
dùng lời nói để truyền đạt, chỉ bày, cho nên chủ trương chứng đạo bằng tâm, dứt
tuyệt ngôn ngữ. [X. Bát nhã tâm kinh chú].
●
Đông phương phân biệt TRIẾT LÝ và TRIẾT HỌC:
Triết
học là môn học hay là phương cách diễn tả Triết lý. Triết lý thì thâm sâu, còn
Triết học thì tìm cách diễn tả cái triết lý thâm sâu ấy bằng ngôn ngữ con người
để người nghe, người đọc hiểu được cái triết lý ấy. Nhưng ngôn ngữ con người có
giới hạn, không diễn tả được hết Triết lý.
Dường
như người Tây Phương chỉ có từ PHILOSOPHY để chỉ chung Triết lý và Triết học,
nên họ không phân biệt được như người Đông Phương.
●
Thời gian xuất tu, cũng là thời gian tôi phải quyết định về vấn đề đức tin. Lúc
đó tôi nhận định phải xác định cấp bậc giữa những giá trị, đồng thời phải phân
biệt giữa mục đích và phương tiện.
Tôi
nhận ra giá trị cao nhất chính là Chân, Thiện, Mỹ chứ không phải là hạnh phúc
hay thiên đàng. Tôn giáo là phương tiện giúp con người đạt đến Chân, Thiện, Mỹ,
chứ không thể đồng hoá tôn giáo với Chân, Thiện, Mỹ được. Vậy vấn đề là tôi
phải tìm và đạt được Chân, Thiện, Mỹ, chứ không phải là coi tôn giáo như một
cái đích mà tôi phải đạt tới.
Từ
đó, tôi nhận ra rằng rất nhiều người theo và thực hành tôn giáo vì tôn giáo hứa
hẹn Thiên đàng hay hạnh phúc vĩnh cửu cho họ. Thiên Chúa cũng chỉ là phương
tiện giúp họ đạt được cái hạnh phúc vĩnh cửu ấy thôi.
Bấy
giờ tôi mới hiểu ra một ý nghĩa mới cao hơn cách tôi thường hiểu của câu Kinh
Thánh: «Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình
vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được» (Mt 10:39). Nghĩa là ai sẵn sàng từ bỏ hạnh phúc
của mình để đạt được Chân, Thiện, Mỹ, thì chẳng những sẽ đạt được Chân, Thiện,
Mỹ, mà còn đạt được hạnh phúc của mình. Còn ai chỉ lo tìm hạnh phúc của mình mà
không đặt nặng Chân, Thiện, Mỹ, thì họ chẳng những không đạt được Chân, Thiện,
Mỹ, mà cũng chẳng đạt được hạnh phúc của mình.
Thế
là tôi chọn mục đích cho cuộc đời mình là đi tìm Chân Lý và sự Thiện Hảo. Hạnh
phúc chỉ là kết quả chứ không phải là mục đích của cuộc đời tôi.
Hạnh
phúc chỉ là kết quả tất yếu của việc tìm thấy Chân Thiện Mỹ chứ không phải và
không nên là mục đích của cuộc đời tôi.
●
Tôi tìm hiểu đạo Phật và tôi thấy giáo huấn Phật dạy rất hữu lý. Nhưng tôi cũng
thấy giáo huấn của Đức Giêsu cũng hữu lý không kém. Vì thế tôi vẫn luôn luôn là
một người tin theo Đức Giêsu.
Tôi
chỉ thấy giáo lý đã được diễn giải bởi những người theo hai tôn giáo là khác
nhau thôi, vì họ chấp vào từ ngữ trong giáo huấn của các Ngài.
Một
ví dụ cụ thể cho các phật tử về vấn đề chấp vào ngôn ngữ:
Trong
Pháp Bảo Đàn Kinh, Huệ Năng nói các pháp là thường, đang khi Đức Phật nói các
pháp là vô thường. Hai vị nói ngược nhau, nhưng Huệ Năng xác định: «Ý ta và ý
Phật không khác nhau».
Ngôn
từ trong các giáo huấn của các vị giáo chủ không thể hiểu theo nghĩa chính xác
của ngôn từ. Chính vì thế, Phật và Thiền tông mới chủ trương: «Bất lập văn tự,
giáo ngoại biệt truyền». Nghĩa là chân lý không nằm trong văn tự…
Khi
Phật nói «vô ngã» thì đừng hiểu một cách tuyệt đối là vô ngã, vì Phật từng
tuyên bố: «trong vô ngã có hữu ngã, và trong hữu ngã có vô ngã».
Tôi
thấy rất nhiều người thông thạo giáo lý Phật giáo không nắm vững được tinh thần
«Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền» nghĩa là chân lý không nằm trong văn
tự.
●
Trong thư thứ hai Corintô, thánh Phaolô viết: «Thiên Chúa ban cho chúng tôi khả
năng phục vụ Giao Ước Mới, không phải Giao Ước căn cứ trên chữ viết, nhưng dựa
vào Thần Khí. Vì chữ viết thì giết chết, còn Thần Khí mới ban sự sống» (2Cr
3:6). Tôi hiểu ý của thánh Phaolô không xa lạ gì với ý của Phật trong chủ
trương «Bất lập văn tự…»
Giao
Ước hay Chân lý không căn cứ trên chữ viết, nghĩa là đừng căn cứ vào nghĩa đen
của chữ viết trong kinh mà luận Chân lý.
Cốt
tuỷ của mọi tôn giáo không phải là giáo lý của tôn giáo ấy cho bằng cái TÂM YÊU
THƯƠNG mà mọi tín hữu phải đạt được. Dù theo tôn giáo nào, theo tôi, không cần
thiết, điều cần thiết là phải biết sống THÀNH THẬT, tôn trọng CÔNG LÝ, và biết
biểu lộ TÌNH THƯƠNG của mình đối với mọi người bằng việc làm thật sự.
Các
linh mục không chấp nhận quan điểm ấy của tôi đâu. Họ cho rằng dù có cái Tâm
Yêu thương ấy mà không phải là người đạo Công giáo thì... khó mà được cứu rỗi.
●
Các vị giáo chủ có nhiệm vụ phải giúp mọi người hiểu biết chân lý để được hạnh
phúc. Và không có cách nào để giúp họ hiểu biết chân lý ngoài việc dùng ngôn
ngữ. Khổ nỗi ngôn ngữ nhiều khi không sao diễn tả đúng được cái chân lý vốn
vượt khỏi khả năng diễn tả của ngôn ngữ. Nhưng đa số hay hầu hết mọi người lại
cứ hiểu chính ngôn ngữ diễn tả ấy là chân lý. Chỉ được một vài người nắm được
chân lý nhờ dựa vào ngôn ngữ ấy rồi vượt ra khỏi ngôn ngữ ấy.
Tương
tự như trường hợp phải giúp mọi người thấy mặt trăng bằng cách dùng ngón tay để
chỉ mặt trăng. Khổ nỗi làm như vậy khiến hầu hết đều lầm tưởng ngón tay ấy
chính là mặt trăng. Chỉ một số người dựa vào ngón tay ấy rồi rời khỏi ngón tay
theo hướng ngón tay chỉ thì thấy được mặt trăng.
Mặc
dù Phật nói rất rõ: Đừng lầm ngón tay ta với mặt trăng. Nhưng những đệ tử Phật
đâu mấy người thấy được mặt trăng. Họ cứ nhìn mãi vào ngón tay, và sung sướng
nghĩ rằng mình đã thấy được mặt trăng.
Có
người biết rằng phải rời khỏi ngón tay mới thấy được mặt trăng. Nhưng khổ nỗi
họ rời khỏi ngón tay nhưng lại không theo hướng của ngón tay, nên lại thấy một
cái gì đó mà họ tưởng là mặt trăng.
Chính
vì thế, Phật giáo có câu: Y kinh thuyết pháp thì oan cho ba đời chư Phật; mà
lìa kinh thuyết pháp thì là ma pháp.
●
Công Đồng Vatican II chủ trương đại kết, nghĩa là hợp nhất các tôn giáo tin vào
Đức Giêsu Kitô. Nhưng mặc dù đại thể giống nhau, nhưng chỉ vì vấn đề giáo lý
khác nhau ở một vài chi tiết, mà không thể chấp nhận hợp nhất được. Cùng tin
vào một cuốn Thánh Kinh, nhưng chỉ vì cách chú giải Thánh Kinh có những tiểu
tiết khác nhau, nên không chấp nhận nhau được. Họ quên mất câu "chữ viết
làm cho chết, tinh thần mới làm cho sống" (2Cr 3:6). Giáo lý chỉ là cách
diễn tả chân lý chứ đâu phải là chân lý. Chân lý chỉ có một, nhưng cách diễn tả
chân lý thì có nhiều và có thể khác nhau.
Họ
lầm ngón tay với mặt trăng.
Điều
đáng buồn và đáng trách là các giáo phái chê bai nhau, cho nhau là tà giáo.
●
Mọi sự vật không chỉ có một mặt. Tùy theo từng bối cảnh mà ta mô tả mặt này hay
mặt kia. Khi nh
Khi
nhìn cái chén để ngửa, ta nói nó lõm. Nhưng khi người ta úp nó xuống, ta nói nó
lồi. Người không hiểu sẽ nói ta bất nhất. Chính vì thế, ta không thể phán đoán
đúng sai khi ta không biết bối cảnh mà người nói mô tả.
Lão
Tử nói: ""Thiên địa bất nhân dĩ vạn vật vi sô cẩu", nghĩa là
Trời Đất đối xử với vạn vật cách bất nhân như người ta đối xử với con vật bằng
rơm để cúng tế. Khi chưa cúng tế thì trân trọng nó, nhưng cúng tế xong thì vứt nó
vào sọt rác.
Có
phải bản chất của Trời Đất là bất nhân như vậy không?
Phải
nói đó là một khía cạnh của Trời Đất. Khía cạnh kia là: Trời Đất nuôi dưỡng vạn
vật như một người mẹ.
Khi
nói câu trên, có lẽ Lão Tử muốn nói tới tính khách quan, vô tình, máy móc của
Trời Đất, chẳng hạn như quy luật nhân quả của Trời Đất, "gieo Nhân nào gặt
Quả ấy". Mọi vật đều bị đối xử công bằng và bình đẳng, không có ngoại lệ
hay thiên vị, không sự vật hiện tượng hay cá nhân tập thể nào tránh thoát được.
Quan
điểm của Đông Phương thì Trời Đất siêu việt thiện ác, không chấp thiện cũng
không chấp ác, miễn sao có lợi cho vũ trụ vạn vật thôi.
Thiên
Chúa vẫn luôn luôn điều khiển lịch sử. Không một sợi tóc trên đầu chúng ta rơi
xuống không ngoài sự an bài của Thiên Chúa.
Vậy
thì chiến tranh đang xảy ra tại
Chắc
chắn 100% mọi chuyện xảy ra trên thế giới hiện nay đều nằm trong sự quan phòng
yêu thương của Thiên Chúa. Chỉ có điều với những tiền đề đức tin Kitô giáo thì
không thể giải thích được, vì phát sinh nhiều mâu thuẫn về mặt lý luận.
●
Theo quan điểm triết lý Đông Phương thì "Thiện ác giai Thiên lý" mà
Kitô giáo có lẽ không chấp nhận. Nhưng triết lý Đông Phương cho rằng Trời sử
dụng cả thiện và ác để làm cho vũ trụ vạn vật tiến hóa.
Tương
tự như người cha trong gia đình đã sử dụng cả roi vọt, lời trách mắng cũng như
phần thưởng và lời khen để giáo dục con cái. Có thể nói người cha đã "siêu
việt" chuyện thưởng phạt trong việc giáo dục con cái.
●
Trong khoa học, nếu một giả thuyết nào đưa ra mà không giải thích được bất kỳ
sự kiện nào liên quan, thì không được giới khoa học chấp nhận. Phải nghiên cứu
để đưa ra một giả thuyết khác giải thích được tất cả. Nhưng sau một thời gian,
nhiều sự kiện mới được khám phá nằm ngoài khả năng giải thích của giả thuyết
trên, thì họ lại phải nghiên cứu để đưa ra một giả thuyết khác giải thích được
cả những sự kiện mới.
Còn
Kitô giáo thì sự kiện nào giáo lý không giải thích được thì chụp cho nó hai chữ
MẦU NHIỆM, và hài lòng với việc chụp mũ ấy. Ai dám nghi ngờ và không chấp nhận
thì... coi chừng người ấy mất đức tin.
●
Tôi chia sẻ với Cha những tư tưởng của tôi để Cha nhận ra sự hợp lý hay bất hợp
lý trong những gì mình học được từ người khác. Nếu Cha có mục đích tìm Chân Lý
thì Cha sẽ thích những chia sẻ trái chiều từ người khác để rộng đường suy nghĩ.
Nhưng
Cha không nên chia sẻ tư tưởng của Cha với những Kitô hữu khác. Chắc chắn Cha
sẽ bị kết án và đời sống sẽ trở nên rắc rối lắm.
Không
phải ai mình cũng có thể chia sẻ những tư tưởng cao được. Chính Chúa Giêsu cũng
nói: «Của thánh, đừng quăng cho chó; ngọc trai, chớ liệng cho heo, kẻo chúng
giày đạp dưới chân, rồi còn quay lại cắn xé anh em» (Mt 7:6). Thánh Phaolô cũng
viết: «(1) Thưa anh em, về phần tôi, tôi đã không thể nói với anh em như những
con người sống theo Thần Khí, nhưng như với những con người sống theo tính xác
thịt, như với những trẻ nhỏ trong Ðức Kitô. (2) Tôi đã cho anh em uống sữa chứ
không cho dùng thức ăn, vì anh em chưa chịu nổi. Nhưng bây giờ anh em cũng vẫn
còn không chịu nổi, (3) vì anh em còn là những con người sống theo tính xác
thịt và theo thói người phàm sao?» (1Cr 3:1-3).
●
Tôi cảm thấy ngay cả hàng giám mục, đừng nói tới hàng linh mục, họ chỉ là những
người «uống sữa» chứ chưa phải là những người «ăn thức ăn đặc».
Nói
chung, các giám mục và linh mục vẫn quan niệm Thiên Chúa hiện diện ở bên ngoài
mình, trong khi rất nhiều đoạn Kinh thánh nói Thiên Chúa ở ngay trong bản thân
mỗi người. Chẳng hạn như:
*
«Chỉ có một Thiên Chúa là cha chung mọi loài. Ngài ở trên mọi loài, xuyên thấu
mọi sự, mọi loài, và ở trong mọi người chúng ta» (Ep 4:4-6)
*
«Anh em chẳng phải sống bằng xác mà bằng Thần, vì Thần của Thiên Chúa ở trong
anh em.» (Rm 8:9).
*
«Và người ta sẽ không nói: “Ở đây này!” hay “Ở kia kìa!”, vì này Triều Ðại
Thiên Chúa đang ở giữa các ông”» (Lc 17:21). Tôi không đồng ý với cách dịch
này: Tôi nghĩ phải dịch là «ở TRONG các ông» mới đúng. Khi họ dịch «ở GIỮA» thì
tôi đánh giá trình độ tâm linh của người dịch không cao lắm.
Bản
Vulgata dịch thế này: «neque dicent ecce hic aut ecce illic ecce enim regnum
Dei intra vos est» INTRA VOS, chữ Intra trong tự điển Latin-English là: INSIDE,
WITHIN, chứ không phải là AMONG.
*
«Anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là Ðền Thờ của Thánh Thần sao? Mà
Thánh Thần đang ngự trong anh em là Thánh Thần chính Thiên Chúa đã ban cho anh
em» (1Cr 6:19), «Anh em hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em» (1Cr
6:20).
*
Rồi câu này cũng lại dịch là GIỮA trong khi bản Latin thì dùng chữ IN: «Người
đã muốn cho họ được biết mầu nhiệm này phong phú và hiển hách biết bao giữa các
dân ngoại: đó là chính Ðức Kitô đang ở giữa anh em» (Cl 1:27). Bản Vulgata dịch
là: «quibus voluit Deus notas facere divitias gloriae sacramenti huius in
gentibus quod est Christus IN vobis spes gloriae» Rõ ràng bản Latin dùng chữ IN
(inside) chứ không phải là INTER (among). Tôi không biết tại sao người dịch lại
không dám dịch là TRONG mà lại dịch là GIỮA.
*
«Hỡi anh em, những người con bé nhỏ của tôi, mà tôi phải quặn đau sinh ra một
lần nữa cho đến khi Ðức Kitô được THÀNH HÌNH nơi anh em» (Gl 4:19).
*
«(12) Nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, và
tình yêu của Người nơi chúng ta mới nên hoàn hảo. (13) Căn cứ vào điều này,
chúng ta biết được rằng chúng ta ở lại trong Người và Người ở lại trong chúng
ta: đó là Người đã ban Thần Khí của Người cho chúng ta.» (1Ga 4:12-13).
Bây
giờ Cha ở Việt Nam, tôi ở Mỹ, nếu Thiên Chúa ở giữa tôi với Cha, vậy thì Thiên
Chúa ở đâu? Khi dịch Thiên Chúa ở giữa chúng ta, thì có nghĩa là Thiên Chúa ở
ngoài mỗi người chúng ta, chứ không phải ở trong mỗi người.
●
Nếu người ta nắm được cốt yếu của tôn giáo mình, người ta sẽ dễ dàng nhận ra
cái cốt yếu của các tôn giáo khác. Vì cốt yếu của mọi tôn giáo đều chỉ là một.
Người ta thấy các tôn giáo khác hẳn nhau, chỉ vì người ta chỉ thấy được cái vỏ
bề ngoài của chính tôn giáo mình, và chỉ biết được cái vỏ của các tôn giáo
khác, nên người ta thấy các tôn giáo quá khác nhau.
Chẳng
hạn một ví dụ cụ thể: nếu người Kitô hữu biết được Thiên Chúa mình tôn thờ là
Đấng tuyệt đối, bất biến, là nguồn gốc của vũ trụ vạn vật, và người ta thấy
thực thể mà tín đồ Phật giáo phải giác ngộ được là Chân Như Phật tánh, là một
thực thể tuyệt đối, bất biến, là nguồn gốc của vũ trụ vạn vật, thì lập tức
người ta nhận ra ngay Thiên Chúa và Chân Như ấy chỉ là một chứ không thể là
hai.
Nếu
người Phật tử biết rằng điều cốt tủy của Phật giáo là cảm nghiệm được mình
tương tự như là sóng, Chân Như chính là nước, Phật tánh của mình và Phật tánh
của Chân Như chỉ là một, thì cũng dễ dàng nhận ra cốt tủy của Kitô giáo khi đọc
những tư tưởng của Thánh Phaolô hay của Thánh Augustinô: Thiên Chúa còn thân
mật với tôi hơn chính tôi thân mật với tôi, hay Thiên Chúa ở ngay trong bản
thân tôi...
Chính
vì ta chẳng nhận ra được cốt yếu của tôn giáo mình, nên ta chẳng nhận ra cốt
yếu của các tôn giáo khác vốn là một, mà chỉ thấy các tôn giáo hết sức khác
nhau.
Nếu
mình nhận ra cốt tủy tôn giáo mình là đạt được Chân, Thiện, Mỹ, thì mình cũng
thấy các tôn giáo khác cũng có cùng một cốt tủy ấy. Chỉ vì mình coi cốt tủy tôn
giáo mình là những nghi lễ, là những giáo lý, v.v... nên thấy các nghi lễ và
giáo lý các tôn giáo khác với mình, nên mình không thấy được tính nhất quán của
các tôn giáo.
Chẳng
lẽ chúng ta không thể kết luận gì khi thấy những người tốt nhất trong các tôn
giáo đều có rất nhiều điểm quan trọng giống nhau, như tinh thần xả kỷ hy sinh
cho tha nhân, tinh thần siêu thoát không bị ràng buộc bởi danh, lợi, thú, không
coi "cái tôi" của mình là gì cả, v.v... và những người xấy nhất trong
các tôn giáo cũng có rất nhiều điểm giống nhau. Chẳng lẽ chúng ta không nhận ra
điều gì về những điểm giống nhau ấy sao?
Nhận xét
Đăng nhận xét